LÂM SÀNG
Hội chứng kháng Phospholipid (APS)
Hội chứng kháng Phospholipid là một bệnh lý tự miễn liên quan đến sự xuất hiện của các tự kháng thể kháng lại phospholipid màng tế bào.
APS — Tổng quan & Dịch tễ học Lâm sàng
Hội chứng kháng Phospholipid (Antiphospholipid Syndrome - APS) có thể xuất hiện đơn độc (nguyên phát) hoặc kết hợp với các bệnh mô liên kết tự miễn khác (thứ phát), đặc biệt là Lupus ban đỏ hệ thống (SLE).
- Tỷ lệ hiện mắc: Ước tính khoảng 40–50 người trên 100.000 dân.
- Tỷ lệ mắc mới: Khoảng 1–5 trường hợp trên 100.000 người mỗi năm.
- Tỷ lệ giới tính: Bệnh gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới, với tỷ lệ nữ/nam khoảng 3:1 đến 5:1 ở thể nguyên phát. (1)

APS - Triệu chứng lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng và biến chứng liên quan đến APS:
- Tắc mạch (Huyết khối): Bệnh huyết khối tĩnh mạch và động mạch ở các cơ quan.
- Biến cố sản khoa / Thai kỳ: Sảy thai tái phát và thai lưu.
- Biểu hiện thần kinh: Bệnh động kinh, chứng múa giật, thiếu máu não cục bộ.
- Biểu hiện huyết học: Suy giảm tiểu cầu tự miễn / giảm lượng tiểu cầu. (2)

APS - Cận lâm sàng
Các xét nghiệm định lượng tự kháng thể chính gồm:
- Kháng thể kháng Phospholipid IgG/IgM
- Kháng thể kháng Cardiolipin (aCL) IgA/IgG/IgM
- Kháng thể kháng Beta2-Glycoprotein I (anti-β2GP1) IgG/IgM/DM1/IgA
- Kháng thể kháng Prothrombin
- Kháng thể kháng đông Lupus (Lupus Anticoagulant - LAC)
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Sapporo đã sửa đổi. (3)
Tiêu chuẩn lâm sàng
Huyết khối mạch:
Một hoặc nhiều đợt cấp trên lâm sàng của huyết khối động mạch, tĩnh mạch hoặc các mạch máu nhỏ, ở bất kỳ cơ quan hoặc mô nào.
Các bất thường trong thời kỳ mang thai:
Ít nhất một lần thai chết lưu nhưng bình thường về hình thái học vào tuần thứ 10 trở đi của thai kỳ hoặc
Ít nhất một lần đẻ non sơ sinh bình thường về hình thái học trước tuần thứ 34 của thai kỳ thai do sản giật, tiền sản giật nặng hoặc suy chức năng rau thai hoặc
Ít nhất 3 lần sảy thai ngoài ý muốn liên tiếp trước tuần thứ 10 của thai kỳ, với việc loại trừ các bất thường về giải phẫu, hóc môn của mẹ và các bất thường về nhiễm sắc thể của bố và mẹ.
Tiêu chuẩn cận lâm sàng
Chất chống đông Luput xuất hiện trong huyết tương ở ít nhất 2 lần xét nghiệm cách nhau tối thiểu 12 tuần, được phát hiện theo các hướng dẫn của Hội Huyết khối và Đông cầm máu Quốc tế.
Kháng thể kháng cardiolipin IgG và/ hoặc IgM dương tính trong huyết thanh hoặc huyết tương với hiệu giá trung bình hoặc cao ( > 40 GPL hoặc MPL, hoặc > số phần trăm thứ 99) trong ít nhất 2 lần xét nghiệm với khoảng cách tối thiểu 12 tuần, được định lượng bởi phương pháp ELISA chuẩn.
Kháng thể kháng ß2 glycoprotein IgG và/ hoặc IgM dương tính trong huyết thanh hoặc huyết tương với hiệu giá trung bình hoặc cao (> số phần trăm thứ 99) trong ít nhất 2 lần xét nghiệm với khoảng cách tối thiểu 12 tuần, được định lượng bởi phương pháp ELISA chuẩn.
APS được chẩn đoán xác định khi có ít nhất một tiêu chuẩn về lâm sàng và một tiêu chuẩn về xét nghiệm. Không chẩn đoán là APS nếu sự xuất hiện của xét nghiệm aPL dương tính và biểu hiện lâm sàng cách nhau dưới 12tuần hoặc trên 5 năm.
Loạt bài chuyên sâu
Tài liệu tham khảo
- Wincup C, Ioannou Y. Sự khác biệt giữa hội chứng kháng phospholipid khởi phát ở trẻ em và người lớn. Front Pediatr. 2018;6:362. doi:10.3389/fped.2018.00362. PMID:30542645; PMCID:PMC6277799.
- MosaiQ AiPlex CTDPlus Launch Book (July 2025)
- BV Nguyễn Tri Phương. Hội chứng kháng Phospholipid (Antiphospholipid Syndrome). https://bvnguyentriphuong.com.vn/mien-dich-lam-sang/hoi-chung-khang-phospholipid-antiphospholipid-syndrome

